Một bài văn biểu cảm: Cây ngô quê tôi

Phép tu từ từ vựng: Ẩn dụ

Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 2011 – 2012 – huyện Thạnh Phú

Câu 1: (3.0điểm)

Phân tích các yếu tố ngôn ngữ có giá trị tu từ trong đoạn thơ sau:

Quê hương là con diều biếc

Tuổi thơ con thả trên đồng

Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông.

(Trích Quê hương - Đỗ Trung Quân )

Read the rest of this entry »

Chiếc lược ngà

I. Tìm hiểu chung

1.Tác giả: Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1933, ông tham gia cách mạng từ kháng chiến chống thực dân Pháp ở chiến trường Nam Bộ

- 1954 – tập kết ra Bắc

- Trong kháng chiến chống Mĩ, ông lại trở về miền Nam hoạt động và sáng tác văn hóa

Tác phẩm chính: Nhật kí người ở lại, Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng, Bông cẩm thạch, Cánh đồng hoang.

- Tác phẩm của ông giản dị mộc mạc nhưng sâu sắc, đậm đà chất Nam bộ.

2. Văn bản

a) Hoàn cảnh sáng tác: năm 1996 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

- Tác phẩm được in trong tập truyện cùng tên.

- Văn bản trích phần giữa của truyện, tập trung thể hiện tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu.

- Nhan đề tác phẩm: Chiếc lược ngà là kỉ niệm, là tình cha, là chiếc lược của hi vọng, niềm tin, là quà tặng của người cha đã khuất, là hình ảnh đẹp, và hình tượng của tình cha con bất diệt.

b) Ngôi kể : “tôi” là ông Ba, bạn chiến đấu với ông Sáu, cũng là người chứng kiến toàn bộ câu chuyện giữa ông Sáu và bé Thu.

Tác dụng: làm cho câu chuyện trở nên khách quan, dáng tin cậy, làm cho mạch kể diễn ra tự nhiên, gợi cảm giác chân thực, gần gũi, khi cần người kể có thể bày tỏ trực tiếp cảm xúc, thái độ đối với sự kiện nhân vật.

c) Tóm tắt đoạn trích

- Ông Sáu từ chiến khu về thăm nhà với hi vọng gặp lại đứa con sau 8 năm xa cách, hai bố con chưa hề được gặp mặt.

- Mấy ngày đầu, bé Thu kiên quyết không nhận bố, giận ông, bỏ về nhà ngoại.

- Được bà ngoại giải thích, bé Thu hiểu ra, ra về nhận ba cũng là lúc ông Sáu chia tay mọi người để lên đường.

- Ở căn cứ, ông dồn hết tình cảm nhớ thương, yêu quý con vào việc làm cho con một chiếc lược ngà

- Chưa kịp trao cho con, ông đã bị thương nặng; trước khi mất, ông đã nhờ ông ba, chuyển cho con kỉ vật

d) Tình huống cơ bản của truyện

- Sau 8 năm xa cách, mong ngóng về để được gặp con, nhưng thật trớ trêu, bé Thu không nhận ông là ba.

- Khi bé Thu hiểu ra, nhận ông là ba thì cũng là lúc ông lên đường, không thể nán lại.

- Ở chiến khu, ông dồn nén tình yêu thương con vào chiếc lược, nhưng chưa kịp trao cho con thì hi sinh.

e) Nhan đề tác phẩm: “Chiếc lược ngà” là kỉ niệm, là tình cha, là chiếc lược của hi vọng, niềm tin, là quà tặng của người cha đã khuất, là hình ảnh đẹp, là biểu tượng của tình cha con bất diệt.

Read the rest of this entry »

Lặng lẽ Sa Pa

I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả: Nguyễn Thành Long ( 1925 – 1991), quê Quảng Nam, ông là một cây bút văn xuôi chuyên viết về chuyện ngắn và kí, chuyện của ông thường mang chất kí, có vẻ đẹp thơ mộng, trong trẻo.
Tác phẩm chính: Bát cơm cụ Hồ, Giữa trong xanh, Lý Sơn mùa tỏi…
2. Văn bản:
a) Thể loại: Truyện ngắn.
b) Phương thức biểu đạt: Tự sự – miêu tả – biểu cảm xen lẫn nghị luận.
c) Ngôi kể: ngôi thứ 3 ; tác giả đặt điểm nhìn vào ông họa sĩ, cách kể, ngôi kể, chọn điểm nhìn, là một sáng tạo của tác giả. Tác dụng: một mặt giữ cho câu chuyện vẻ đẹp chân thật và khách quan, mặt khác có điều kiện thuận lợi để nổi bật chất trữ tình, đào sâu suy tư của nhân vật phù hợp với suy nghĩ của tác giả.
d) Hoàn cảnh sáng tác: được viết năm 1970, là kết quả của chuyến đi thực tế lên Lào Cai của tác giả.
In trong tập “Giữa trong xanh” (NXB 1972)
e) Nhân vật: trung tâm là anh thanh niên, nhân vật phụ trực tiếp: Bác lái xe, ông họa sĩ, cô kĩ sư; Nhân vật phụ gián tiếp: anh thanh niên trên đỉnh Phan-xi-păng, ông kĩ sư vườn rau, người cán bộ nghiên cứu bản đồ sét.
→ Các nhân vật trong chuyện đều không có tên riêng, tất cả được nhà văn gọi theo giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác, dụng ý của tác giả muốn người đọc liên tưởng đến những nhân vật tốt đẹp, đó là số đông những con người đang ngày đêm cống hiến thầm lặng cho đất nước, do vậy càng tăng thêm sức khái quát cho câu chuyện.
f) Nhan đề tác phẩm: đọc nhan đề tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa ta thấy sự im ắng hiu hắt, giá lạnh bởi vì nói đến Sa Pa là nói đến sự nghỉ ngơi, nhưng ở Sa Pa không lặng lẽ chút nào bởi ở đó có cuộc sống sôi nổi của những con người đầy trách nhiệm với công việc, với đất nước, cuộc đời họ vang ngân những âm thanh trong sáng, ánh lên những sắc màu lung linh lan tỏa hơi ấm của sự sống như anh thanh niên trên đỉnh Yên Sơn, anh thanh niên trên đỉnh Phan-xi-păng, người cán bộ nghiên cứu bản đồ sét, ông kĩ sư vườn rau Sa Pa. Vì vậy, “trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước.”
g) Chủ đề tác phẩm: qua hình ảnh những người lao động bình thường và tiểu biểu là anh thanh niên, chuyện đã khẳng định vẻ đẹp của người lao động và ngợi ca những công việc thầm lặng, những hy sinh cao cả mà họ đã cống hiến cho đất nước.
h) Tóm tắt truyện:
Rời cây cầu số 4, chiếc xe chở hành khách lên Lai Châu dừng lại nghỉ để lấy nước và cho hành khách nghỉ ngơi, bác lái xe giới thiệu với ông họa sĩ và cô gái về một người “cô độc nhất thế gian” đó là anh thanh niên 27 tuổi làm công tác khí tượng thủy văn kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét. Anh mời mọi người lên nhà chơi, anh chạy lên trước hái hoa tặng cô gái, họ chuyện trò khoảng 30 phút; anh kể chuyện mình sống và làm việc ở đây, anh rất yêu và gắn bó với công việc, anh thích đọc sách, trồng hoa, trồng rau, nuôi gà, anh ăn ở gọn gàng, ngăn nắp. Biết ông họa sĩ vẽ mình, anh giới thiệu cho ông anh thanh niên trên đỉnh Phan-xi-păng, ông kĩ sư vườn rau Sa Pa, người cán bộ nghiên cứu bản đồ sét. Cô kĩ sư nghe anh nói chuyện đã nhận thấy mối tình đầu nhạt nhẽo mà mình từ bỏ là đúng và yên tâm công tác ở miền núi. Cô muốn để lại chiếc khăn làm kỉ niệm của cuộc gặp gỡ nhưng anh không hiểu nên đã trả lại cho cô. Hết 30 phút, anh chia tay mọi người và tặng họ trứng và hoa, không tiễn họ xuống đến tận xe.

Read the rest of this entry »

Về thôi em

Em ra không, mai anh về đất Quảng.
Trời miền Nam giáp tết quá nôn nao.
Thèm chi mô một chén rượu hồng đào,
Dẫu chưa uống – chỉ say từ câu hát.

Em ở biển ngọn khoai trườn nổng cát,
Anh trên nguồn đá chẹn củ mì eo
Cả đời cha cày bới lượm đói nghèo
Vẫn khen đất mình chưa mưa đà thấm.

Biển dưới em con cá chuồn ngon lắm,
Trên nguồn anh trái mít phải lòng theo,
Lận đận một đời quảy gánh gieo neo,
Nuôi con lớn mẹ lên nguồn xuống biển

Đất dễ thấm – dễ mềm lòng quyến luyến,
Người đi xa nhớ muối mặn gừng cay
Đờn Miếu Bông ai chọn phím so dây,
Để ta khóc theo chuyến tàu hối hả ?

Về thôi em, bận lòng chi xứ lạ.
Sông Thu ta dẫu bên lở bên bồi,
Dẫu mỗi năm mỗi nước lụt cuốn trôi,
Cây măng sậy vẫn bám bờ xanh mãi.

Chắc vườn xưa chừ ửng vàng hoa cải,
Cha mẹ trông ta – mòn Hòn Kẽm Đá Dừng !

Cuối năm 1997
(Dương Quang Anh, Tuyển tập thơ Quảng Nam Chưa mưa đà thấm,
Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998)

——————

Là một trong số tác phẩm được chọn đưa vào chương trình Ngữ văn địa phương cấp THCS ở tỉnh Quảng Nam, bài thơ Về thôi em của Dương Quang Anh không những đáp ứng được những tiêu chí cần có của một tác phẩm văn học giảng dạy trong nhà trường phổ thông mà còn là tác phẩm được các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh yêu thích.

Read the rest of this entry »